Chờ nếu bạn muốn tham gia kỳ thi THPT Quốc gia 2018 thôi

Đối với một bài văn, người viết phải biết vận dụng các thao tác tư duy một cách tinh tế và hợp lí. Trong chương trình ngữ văn THPT, học sinh được trang bị kiến ​​thức lý thuyết và vận dụng thực tế của 6 quá trình tư duy, bao gồm: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh và bác bỏ. Các thao tác này tương ứng với 6 bài học được sắp xếp tuần tự từ đơn giản đến phức tạp, từ cơ bản đến nâng cao, trải dài theo chương trình ngữ văn lớp 10-12. Mục đích của hệ thống các bài học về quá trình tư duy là giúp học sinh nắm vững lý thuyết và có thể vận dụng hiệu quả khi viết một bài văn nghị luận.

Tuy nhiên, hiện nay rất ít học sinh nhận thức sâu sắc được điều này. Khi viết luận, hầu hết các em chỉ quan tâm đến những gì mình đang viết, và không thực sự quan tâm đến việc viết như thế nào, sử dụng các quy trình tư duy như thế nào?

Thông thường, khi viết một bài văn, học sinh chỉ sử dụng 4 quy trình: giải thích, phân tích, chứng minh và bình luận. Thao tác so sánh được sử dụng rất ít và thao tác từ chối hầu như không được đưa vào. Tuy nhiên, chính những câu thần chú này lại giúp bài viết của thí sinh trở nên tinh tế, rõ ràng và sâu sắc hơn.

Sử dụng logic so sánh để hiển thị tổng quan

So sánh là một quá trình biện chứng so sánh hai hay nhiều sự vật, đối tượng hoặc khía cạnh của một đối tượng để chỉ ra những điểm giống hoặc khác nhau, từ đó thấy được giá trị của mọi thứ mà chúng ta quan tâm.

Trong một bài văn nghị luận, mở bài trực tiếp, chúng ta có thể sử dụng thao tác lập luận so sánh để đưa ra trường hợp đáng ngưỡng mộ về nội dung tương tự.

Ví dụ, khi cảm nhận được tư tưởng của nhân dân về trạng thái trong đoạn trích Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm, chúng ta có thể so sánh với cảm nhận về đất nước trong các bài thơ của các tác giả trước đó và tương tự. thế hệ. Hoặc khi cảm nhận hình tượng sông Hương trong tác phẩm Hoàng Phủ Ngọc Tẩu, thí sinh có thể so sánh với hình tượng sông Đà trong Phò mã sông Đà của Nguyễn Tuân.

Tuy nhiên, quá trình so sánh chỉ bộc lộ hết ý nghĩa của nó khi người viết biết cách áp dụng nó một cách chính xác trong toàn bộ nội dung bài viết. Vào thời điểm đó, học sinh viết sâu hơn và chi tiết hơn bình thường.

Các vấn đề văn học không bao giờ tồn tại độc lập tuyệt đối và luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trên nhiều cấp độ: giai đoạn, thể loại, chủ đề, phong cách, ngôn ngữ, giọng điệu, cảm hứng. , thể hiện cái nhìn toàn diện và hiểu biết về vấn đề.

Tùy theo yêu cầu của từng đề văn mà người viết tìm đối tượng so sánh cho hợp lý. Chẳng hạn, cảm nhận vẻ đẹp của hình ảnh con đò sông Đà trong tác phẩm cùng tên của Nguyễn Tuân, thí sinh có thể so sánh với ông lão Satiago trong tiểu thuyết Ông già và biển cả của Hemingway. Một người đàn ông đơn độc và dũng cảm đối mặt với sức mạnh của thiên nhiên.

Bên cạnh đó, học sinh cũng có thể so sánh với nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân để thấy được sự thay đổi trong quan niệm về người anh hùng và sự thay đổi về nội dung, tư tưởng trong tác phẩm của nhà văn.

Hãy cẩn thận khi sử dụng các kháng nghị

Bác bỏ là để chỉ ra ý kiến ​​sai về chủ đề, và dựa trên cơ sở này để đưa ra một đánh giá xác đáng và bảo vệ ý kiến ​​của mình, và không giống như so sánh, bác bỏ hiếm khi được sử dụng trong phần mở đầu và không được sử dụng phổ biến trong văn bản chính. Để sử dụng thao tác biện chứng này, học sinh cần phải tinh tế cả về tư duy phản biện và cách viết văn vừa phải.

Thông thường, trong một bài văn nghị luận, nếu chủ thể đưa ra hai ý kiến, một đúng và một sai, thì quy trình kháng nghị được sử dụng để bác bỏ ý kiến ​​sai trái. Chẳng hạn, đề bài đưa ra hai nhận xét về nhân vật Tràng trong Vợ người ta của Kim Lân: Ý kiến ​​thứ nhất của Tràng là một chàng trai quê liều lĩnh, liều lĩnh; Kiến thức 2 khẳng định anh là một người đầy khát khao và tốt bụng. Để giải quyết vấn đề này, học sinh có thể áp dụng thao tác bác bỏ để phủ định sự thiên lệch của ý kiến ​​thứ nhất. Trong đó khẳng định tính toàn diện, xác đáng và sâu sắc của ý kiến ​​thứ hai.

Nếu vấn đề chỉ yêu cầu phân tích và cảm nhận thông thường (gợi ý là tích cực), người viết có thể sử dụng quy trình đâm cuối thân bài để củng cố, mở rộng và đào sâu vấn đề.

Để sử dụng quy trình bác bỏ, người viết phải cho rằng các ý kiến ​​phản bác có một lập luận bác bỏ. Chẳng hạn, đề chỉ yêu cầu cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh. Nếu câu trả lời đầy đủ và thuận lợi, học sinh chỉ ra được những đặc điểm cơ bản: đây là tâm hồn của người phụ nữ vừa mang vẻ đẹp hiện đại vừa truyền thống; Cả hai đều vô tội và tự nhiên, đồng thời có sự e ngại và sợ hãi

Nêu ý kiến ​​sử dụng quy trình bác bỏ, thí sinh đặt giả thiết: Có ý kiến ​​cho rằng tâm hồn người phụ nữ trong bài thơ dù đã trải qua nhiều vấp ngã, thất bại trong tình yêu và hôn nhân nhưng tâm hồn vẫn trong trắng. , trực quan, vẫn vui nhộn. Trên cơ sở ý kiến ​​giả định này, thí sinh sử dụng phép bác bỏ để phủ định thành kiến, đồng thời hoàn thiện và khẳng định ý kiến ​​đúng đắn, toàn diện của mình.

Bài viết được chia sẻ bởi dedang.com

Bạn cũng có thể thích...

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.